Chứng nghiến răng khi ngủ không chỉ ảnh hưởng đến hàm răng của bạn mà còn gây ra tiếng động khiến người nằm cạnh khó chịu. Nó xảy ra khi những cơ cổ họng thư giãn vào ban đêm và chặn đường hô hấp, làm đứt quãng khá thở. Tật nghiến răng được khái niệm là “hoạt động lặp đi lặp lại của cơ hàm, đặc thù bởi sự siết chặt hoặc nghiến của răng và/hoặc bởi sự giằng và đẩy của hàm dưới”. Hoạt động này có thể tạo nên âm thanh ken két hoặc không.
Nghiến răng là một hoạt động có khả năng gây quá tải hệ thống nhai. Hiện nay, nguyên do chính yếu gây bệnh vẫn chưa được biết rõ. Tuy nhiên, bệnh thường đi kèm với tình trạng stress, rối loạn khớp cắn, dị ứng và liên quan tới tư thế ngủ. Không may, ngày nay có rất ít dữ liệu về nguyên do và tác động của bệnh. Cho nên, việc đánh giá và điều trị cẩn trọng là phương pháp tốt nhất để đưa ra các chỉ định đúng. Nghiến răng lúc ngủ: Xuất hiện ở cả người to và trẻ em. Thường là hoạt động nghiến qua lại.
Nghiến răng không thực hiện chức năng của hệ thống nhai và có thể gây chấn thương khớp cắn. Khớp cắn tác động lên chức năng của cơ, qua ấy tác động đến khớp thái dương hàm. Do vậy, bất kỳ sự thay đổi nào trong khớp cắn đều tác động tới cả cơ và khớp. Sai khớp cắn chính là một trong những nguyên nhân phổ biến nhất gây tật nghiến răng. Hậu quả của nó có thể gây ra đau khớp thái dương hàm. Nguyên nhân nghiến răng khi ngủ chưa thực thụ rõ ràng, hãy cùng tìm hiểu một số nguyên nhân gây nghiến răng lúc ngủ.
- Thuốc,chất kích thích
Một số tác dụng phụ của các loại thuốc và thuốc gây nghiện làm tăng nguy cơ nghiến răng như: Thuốc chủ vận và đối kháng dopamine. Thuốc chống trầm cảm ba vòng. Các chất ức chế tái hấp thu serotonin có chọn lọc. Rượu, cocaine,...
- Nghề nghiệp
Một số nghề nghiệp có đòi hỏi đặc biệt có thể gây nên nghiến răng hay cắn chặt răng. Ví dụ: Nghệ sĩ piano cắn chặt răng khi giữ đàn lúc chơi; công nhân khuân vác cắn chặt răng để gồng sức; nghệ sĩ trình diễn xiếc dùng răng để giữ người trên không trung,...

- Bản năng
Một số nghiên cứu cho rằng các thói quen này thuộc về bản năng, là hoạt động tập tính của loài có vú. Mục đích của nó là để duy trì sự sắc bén của hàm răng.
- Yếu tố tại chỗ
Cản trở cắn khớp có thể là vấn đề gây bệnh. Chúng cản trở đường đi của vận động nhai bình thường. Nguyên nhân có thể ở một răng hoặc một nhóm răng. Ví dụ: lúc răng khôn hàm trên mất, răng khôn hàm dưới mọc trồi. Lúc cắn lại, hàm dưới phải đưa ra trước nhiều hơn để đóng hàm. Điều này làm lệch lạc vận động hàm thông thường.
- Di truyền
Những người có thành viên trong gia đình đang hoặc từng mắc bệnh nghiến răng khi ngủ có nguy cơ cũng bị bệnh này. Nghiên cứu cho thấy rằng có thể có một mức độ liên quan tới di truyền trong việc phát triển tật nghiến răng. 21 – 50% Những người bị nghiến răng ban đêm có thành viên trong gia đình từng mắc bệnh trước đây. Điều này cho thấy yếu tố di truyền có can hệ đến bệnh.
- Tâm lý
Stress các nghiên cứu báo cáo cho thấy yếu tố tâm lý có nguy cơ tác động đáng kể đến bệnh, chính yếu là lối sống căng thẳng. Bằng chứng về vấn đề này đang gia tăng nhưng vẫn chưa có kết luận. Căng thẳng cảm xúc được coi là yếu tố kích hoạt chính. Nghiến răng ban đêm có thể là sự đáp ứng đối với căng thẳng ban ngày đã hoặc đang diễn ra.
Căng thẳng có thể xảy ra ở những người làm việc nhiều, bị áp bức; sinh viên đang trong mùa thi. Căng thẳng đi kèm với lo lắng, sự kìm giữ có thể kích hoạt những hoạt động của não bộ. Điều này làm tăng kích thích thần kinh, có thể gây nên đầy đủ các phản ứng của nghiến răng. Nghiến răng thường gặp ở tuổi trẻ và thường biến mất lúc to hơn, những người mạnh mẽ, dễ kích động có khả năng mắc bệnh cao hơn.
- Một số nguyên nhân khác
Dị ứng: Do nhiễm ký sinh trùng đường ruột, rối loạn tiêu hóa hay dị ứng thức ăn. Đây là những nguyên nhân có thể của nghiến răng trầm trọng ở trẻ em. Tình trạng thiếu vitamin, mất thăng bằng enzym cũng có tác động tới bệnh. Rối loạn dinh dưỡng, tiết niệu, nội tiết cũng là những yếu tố dễ dàng gây bệnh, phổ thông ở trẻ em hơn người lớn.
Những rối loạn tâm thần trung ương có thể can hệ tới bệnh: Bệnh Down, bệnh Huntington, nhiễm khuẩn màng não, stress sau chấn thương, chứng bại não, động kinh, bệnh Leigh, bệnh Parkinson, hội chứng Rett,...
>>> Liên kết khác: